About the Sunyata CMC

A History of the Establishment of the Sunyata Community and Meditation Centre

(2000-      )

1. Cơ Duyên Xuất Gia

Năm 1996 Hòa Thượng Tôn Sư một mình đi hoằng pháp châu Úc. Nhân dịp này Ngài viếng thăm Tây Úc là một tiểu bang cách xa Sydney đến hơn 4000 km tức là gấp mấy lần cả toàn xứ Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hòa Thượng đến Perth, thành phố của Tây Úc. Trong thời gian ngắn tại đây Ngài ban nhiều bài pháp có đông đảo Phật tử người Việt tham dự. Những lời giảng của Hòa Thượng là một tiếng chuông cảnh tỉnh, ngay sau khi Ngài rời Úc âm hưởng vẫn còn đầy.

Cô Thái thị Bạch Tuyết pháp danh Tắc Ngọc đến Tây Úc vào tháng 5 năm 1975 lúc đang độ tuổi thanh niên. Sau khi ra trường Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn cô có nhiều năm dạy tại trường Trung Học Bác Ái ở Chợ Lớn là một tư thục chuyên dạy chương trình Pháp. Cô Tắc Ngọc là một trong những Phật tử đến nghe không sót một buổi giảng nào của Hòa Thượng lần đầu tiên thắm thía được ý nghĩa đạo Phật là gì? Đức Phật dạy ta điều gì?

Xuất thân từ một gia đình tin theo đạo Phật, tuy bên họ ngoại có lập một ngôi chùa ở Bến Lức, nhưng cả nhà nhất là bà mẹ cũng chỉ biết có ăn chay và niệm Phật mà thôi.

Sau khi hội nhập vào xã hội Úc đầu thập niên 80 cô giữ chức vụ điều hành thư viện chuyên cho trẻ em. Ngoài giờ làm việc cô thường giúp hướng dẫn người Việt cũng như các di dân đến từ sắc tộc khác hiểu rõ mọi thông tin nhằm giúp cho việc an cư của họ được thuận tiện  hơn.

Cô Tắc Ngọc cũng giúp các hội đoàn như hội phụ nữ, hội chăm sóc trẻ em sắc tộc xin nhiều tài trợ từ chánh phủ để có thêm phương tiện phục vụ trong các lảnh vực gia đình, y tế, giáo dục..vv. Nhân đó cô đã xin được một ngân khoản tài trợ rất dồi dào từ sở xổ số vào đầu thập niên 90 để xây một ngôi chùa có đủ phòng ốc tiện nghi cho mọi lứa tuổi sinh hoạt và tu học theo tịnh độ.

Sau khi nghe Hòa Thượng dạy “tại sao tôi theo đạo Phật” cô Tắc Ngọc chợt ngộ một điều là gần suốt nửa đời lăng xăng lo giúp người, chi cho bằng tự giúp mình an lạc. Cô bèn thu xếp mọi việc và quyết tâm xuất gia.

Năm 1997 nhân đưa cha già về Châu Đốc cô xin cha mẹ cho cô lên Trúc Lâm học tu.

Sau một thời gian tu học tại Trúc Lâm Ni, ngày mùng 8 tháng hai năm Mậu Dần nhằm ngày 6 tháng 3 năm 1998 Hòa Thượng làm lễ xuất gia đặt pháp danh là Huệ Căn. Từ đó cô được Hòa Thượng cho phép ở Trúc Lâm Ni thêm một thời gian nữa để nương chúng tu hành.

2. Quá trình cải gia vi tự

Sau khi trở về trú xứ, cô Huệ Căn sắp xếp việc tu hành theo đường lối Hòa Thượng đã vạch. Bạn đạo ngày xưa luôn khuyến khích phải mở rộng chỗ để cho nhiều người cùng tu học chung.

Để đáp ứng nguyện vọng, tháng 7 năm 1999 cô Huệ Căn làm đơn xin phép Tòa Hành Chánh quận Victoria Park cho xây ở phía sau trong vườn nhà của cô một căn phòng rộng 80 thước vuông để dùng làm chỗ thờ Tổ và ngồi thiền. Trong phòng có đủ nhà tắm và nhà vệ sinh. Dọc theo chiều dài bên ngoài mặt sau thì xây thêm 2 mét rộng để làm nhà bếp riêng. Căn nhà ở phía trước thì mở thông phòng khách với phòng ăn để có một Chánh Điện dài 11 mét, ngang 3 mét rưởi. Toàn bộ khuôn viên của căn nhà là 800 mét vuông. Để việc sửa và xây thêm được Tòa Hành Chánh quận  chấp thuận cô Huệ Căn mời các bạn quen người Úc và Việt cùng có chung tâm tu học thiền thành lập hội Sunyata Community & Meditation Center Inc.

Ngày 7 tháng 12 năm 1999 cô Huệ Căn cùng ban quản trị hội được mời tham dự buổi họp của Tòa Hành Chánh để trình bày mục đích sử dụng việc xây sửa. Các lý do như tu học thiền không hề gây ồn náo cho hàng xóm, tu thiền không phân biệt một ai, và cũng là nơi sinh hoạt để thắt chặt tính hài hòa cho mọi sắc dân trong quận đã thuyết phục được Hội Đồng Tòa Hành Chánh quận Victoria Park và hội được cấp giấy phép xây sửa và sinh hoạt với tính chất tôn giáo.

Cuối tháng Hai năm 2000 thì việc sửa và xây đã xong, đồng thời tượng Phật Bổn Sư Thích Ca thỉnh từ Việt Nam sang cũng đã đến. Chi phí cho việc xây sửa, thỉnh tượng Phật, các pháp khí, kể luôn 10 bức tranh chăn trâu và chuyên chở từ VN đến chùa tổng cộng là 64 ngàn đô. Cô Huệ Căn bán nữ trang riêng và dùng toàn bộ tiền hưu trí để thanh toán.

Một thiền đường ni tu học theo pháp môn của Hòa Thượng Thanh Từ với đủ tư cách pháp nhân ở Úc ra đời.

3. Đạo từ của Hòa Thượng

Tháng 5 năm 2002 Hòa Thượng Tôn Sư hướng dẫn phái đoàn gồm Hòa Thượng Thích Nhật Quang, các Thầy Thích Đạo Tĩnh, Thích Trúc Thái Bảo, Ni Sư Như Tâm, Ni Sư Hạnh Huệ và một số Phật tử tháp tùng đi hoằng pháp Úc châu một lần nữa. Qua Tây Úc, Hòa Thượng  và chư tôn đức tăng ni trú ngụ trọn thời gian ở thiền đường và ban pháp tại đây. Lúc nầy trong chùa đã có mặt cô Huệ Mãnh, cô tu ở  tiểu bang Queensland vì sớm biết Hòa thượng và phái đoàn sẽ đến Perth nên đã bay qua trước để cùng cung đón với cô Huệ Căn.

Sáng ngày 10 tháng 5, Hòa Thượng Tôn Sư làm lễ an vị Phật và khánh thành Thiền Tự Tuệ Căn. Buổi lễ được cử hành rất trang nghiêm, có Hòa Thượng Thường Chiếu, chư Tôn đức tăng, ni và đông đảo Phật tử chứng minh.

Hòa Thượng Tôn Sư nguyện “cho thiền đường Tuệ Căn từ đây về sau được đầy đủ duyên lành phát triển, hướng dẫn Phật tử tu hành. Đồng thời giáo hóa được nhiều Phật tử phát Bồ Đề tâm” . Lễ vừa dứt Ngài lại ban một bài pháp ngắn, giải thích rõ ràng sự khác biệt giữa thiền viện, thiền tự, thiền đường và thiền thất. Theo lời dạy của Hòa Thượng thì  “…thiền đường là chỗ ngồi thiền, ở đây vừa tu vừa hướng dẫn Phật tử, có chỗ ngồi thiền, có chỗ giảng, và có chỗ cho ni chúng ở,  sau này sửa bảng lại là Thiền Tự” .  Nhân dịp này cô Huệ Căn “xin cung thỉnh Hòa Thượng hoan hỷ từ bi ban cho một vị giáo thọ qua đây”.

Hòa Thượng hứa khả và tiếp tục ban đạo từ “ Bây giờ đây gần nhất là có Huệ Mãnh cũng phát tâm xuất gia cũng có tu trên Thầy một thời gian ngắn, Thầy nghĩ Huệ Mãnh ở thất riêng một mình, thay vì ở đây đã trở thành một Thiền Tự thì huynh đệ nên hợp tác để ở một chỗ. Thầy sắp thế nầy nó tiện vì hai vị đều mới tu cho nên Thầy sẽ cho một vị ni bên kia qua tương đối là tu hành lâu, đồng thời cũng hiểu được giáo lý khá để hướng dẫn sắp đặt Thiền Tự cho ổn định…”  và Hòa Thượng nói tiếp “từ đây về sau phải có người ở thường xuyên để giữ cho Thiền Tự càng ngày càng được mở mang rộng rãi giống lời nguyện của Thầy. Đồng thời mình tu và cũng hướng dẫn huynh đệ tu chớ không phải chỉ tu cho bản thân mình thôi. Đây là cái chùa để cho Phật tử đến tập tu thiền, học tu thiền. Bây giờ Thầy cử Huệ Căn  trụ trì, Huệ Mãnh phó trụ trì, còn quý cô qua làm giáo thọ và sắp đặt các việc dùm cho trong chùa được có trật tự hơn chút nữa. Vậy thì từ từ ở đây có quý cô hướng dẫn còn mỗi  năm một vị về Trúc Lâm tập tu để thâm nhập đường lối tu của Thiền Viện , như vậy lâu ngày mới thấm nhuần đạo lý thì mới có thể đủ điều kiện để hướng dẫn giáo hóa quý vị Phật tử ở đây được. Đó là sự sắp đặt. Quý vị đồng ý không?, hai vị?”

“HC, HM: dạ, chúng con đồng ý.”

(Hòa Thượng nói tiếp):

“Kế đến tôi giải thích tại sao đặt tên là Thiền Tự Tuệ Căn. Bởi vì chủ trương của người tu thiền muốn được giác ngộ thì phải mở sáng con mắt trí tuệ cho nên chúng ta mỗi đêm tụng Bát Nhã. Bát Nhã là Trí Tuệ cứu cánh. Như vậy thì Căn là cái gốc, cái rễ, cây có gốc có rễ thì cây mới đứng vững. Cũng vậy người tu mà có mở sáng trí tuệ thì trên đường tu mới được bền lâu và mới đạt được kết quả tốt. Cho nên Trí Tuệ là nền tảng căn bản của người tu không thể thiếu.

Vậy từ nay về sau quý Phật tử tới đây không tụng kinh Di Đà, không tụng kinh Địa tạng, không tụng kinh gì mà tụng kinh Bát Nhã. Nhớ vậy đó vì Bát Nhã là Trí Tuệ. Mình tu thiền phải có Trí Tuệ thấy đúng như thật các pháp, thì sau đó mình mới không có vướng mắc nó. Còn nếu mình lầm các pháp, giả mà tưởng là thật thì từ cái tưởng thật đó sanh cái tâm luyến mến. Từ luyến mến đó rồi cột trói mình không giải thoát được. Cho nên Trí Tuệ Bát Nhã là cây kiếm bén để cắt đứt hết mọi sự trói buột của các cảnh bên ngoài, vì vậy nó rất thiết yếu.

Cho nên ở đây bước đầu Phật tử vào tu thiền phải lấy cái gốc Tuệ làm căn bản không thể thiếu được. Do đó mà quý thầy đặt tên là Tuệ Căn. Trí Tuệ, cái gốc Trí Tuệ.

Như vậy thì phần sắp đặt, tạm ổn chưa?. Như vậy hai vị tuân theo Thầy. Năm nay mùa an cư thì có lẽ rằng phải cho cô Huệ Mãnh về trước. Còn Huệ Căn ở lại đặng lo giấy tờ cho một cô qua. Phải hôn? Như vậy năm tới thì Huệ Mãnh ở lại đây, rồi Huệ Căn về bển. Đó là sự sắp đặt của Thầy, tuy là chùa tụi con lập nhưng sắp đặt là quyền của Thầy, vì đây là hệ thống tu theo Thầy, cho nên phải đâu vào đấy cho nó xứng đáng chớ còn có cái chùa rồi mà tu hành không ra gì thì chỉ làm trò cười cho người ta thôi. Vậy thì quý vị nghe lời từ đây cố gắng thực hiện cho đúng những gì Thầy sắp đặt. Thôi tới đây nghỉ”

“HC, HM: chúng con xin vâng.”

Lễ an vị Phật và khánh thành Thiền Tự Tuệ Căn hoàn mãn.

Chiều cùng ngày Hòa Thựơng giới thiệu phái đoàn với Phật tử và trao lại cho Hòa Thựơng Thường Chiếu khai giảng. Sáng ngày hôm sau Hòa Thượng quy y cho 30 Phật tử, có vài vị là người Úc. Chiều đó là phần thuyết pháp của Ni Sư Hạnh Huệ.

Hòa Thựơng Tôn Sư ban pháp nhũ ngày cuối cùng và sau đó phái đòan đi Sydney để về Việt Nam.

4. Phát Triển

  • Bảo Lãnh

Khoảng thời gian cô Huệ Căn ở Việt Nam, trước khi về lại Úc có dự đám tang người

cậu ruột năm 1998, tại đây cô gặp cô Nguyên Khiêm là đệ tử của Ni Sư Như Chơn. Thì ra là huynh đệ cùng tông môn, nên khi cô Huệ Căn về Perth và hội đã được  phép hoạt động thì có bảo lãnh cô Khiêm qua Tây Úc với tư cách thường trú nhân.

Tháng 6 năm 2002 sau khi nhận đựơc danh sách chư ni từ Thiền Viện Trúc Lâm gởi sang, ban chấp hành Thiền Tự Tuệ Căn bèn thiết lập hồ sơ xin bảo lãnh cho 4 ni: Sư Phó Trúc lâm Ni Thích Nữ Hạnh Diệu, Sư Cô Thuần Nhuận, cô Huyền Đạo và cô Linh Xuân. Các hồ sơ xin bảo lãnh đều đựơc chấp thuận.

Cuối tháng 12 năm 2002 Sư Phó Trúc Lâm Ni hướng dẫn phái đòan hai vị ni sang Tây Úc. Đến đầu năm 2003 cô Huệ Căn đưa Sư Phó Trúc Lâm Ni, cô Huyền Đạo và cô Linh Xuân đi Melbourne để nhận Thiền Tự Tiêu Dao.

Cuối năm 2004 trong chuyến hành hương Ấn Độ cô Huệ Căn có dịp tiếp xúc cô Trí Định là đệ tử Ni Sư Thuần Giác. Nhơn có lời gởi gắm của Ni Sư và đồng thời  thân sinh cô Trí Định là Phật tử ở Melbourne cũng có lời xin giúp cho cô được qua Úc. Cô Huệ Căn sau khi về lại Perth nhờ ban chấp hành hội làm thủ tục bảo lãnh.

Tháng 7 năm 2005 hội lại bảo lãnh cho cô Linh Tọai từ Trúc Lâm Ni sang để đi Melbourne bổ xung cho thiền tự Tiêu Dao.

  • Cơ Sở.

Năm 2003 đồn cảnh sát cạnh chùa dời, để bảo đảm an toàn cô Huệ Căn cho xây cổng giữa tốn 4 ngàn đô.

Năm 2005, tân trang nhà bếp phía sau thiền đừơng. Bếp gas đựơc thay mới đồng thời đưa đường ống dẫn gas đến thẳng bếp để không còn phải đổi bình gas rất bất tiện không an tòan và lại tốn kém. Nhà bếp có thêm màn để chắn gió mùa đông và che nắng mùa hè. Chi phí hơn 6 ngàn đô.

Năm 2006 xây cổng lớn bên ngoài chi phí 6 ngàn đô.

Tháng 9 năm 2007 một lần nữa cô Huệ Căn lại tham dự phiên họp của Tòa Hành Chánh quận Victoria Park để xin nới rộng Chánh Điện. Phải phá bỏ 2 phòng ngủ, một nhà bếp, một nhà tắm và một nhà vệ sinh để tiếp giáp với Chánh Điện hiện có. Bên ngòai thì xây thêm 2 nhà vệ sinh và 3 nhà tắm. Tháng Giêng 2008 xây dựng hòan tất. Diện tích Chánh Điện bây giờ là 88 m vuông. Phí tổn lên đến 50 ngàn đô.

Đầu năm 2009 xây mái che con đường dẫn đến nhà tắm, nhà vệ sinh bên ngoài và làm cửa lưới Chánh Điện.

Tháng 6 năm 2010 Tòa Hành Chánh quận Victoria Park chấp thuận cho xây thêm 2 mái che con đừơng từ ngòai cổng đến Chánh Điện để tránh mưa nắng.

Tổng số tiền xây thêm các đợt sau nầy là 75 ngàn đô. Cô Huệ Căn dùng tòan bộ tiền tiết kiệm sau nhiều năm làm việc để trang trải.

Đồng thời trong quá trình hình thành cơ sở, không thể không kể đến tịnh tài tịnh vật , và lao động thiện nguyện từ Phật tử Việt và Úc.

Năm 2000 Phật tử gắn hoa văn lên nóc chùa.

Năm 2001 khi cô Huệ Căn về VN an cư thì Phật tử mua gạch men và cùng nhau lót Thiền Đừơng, sơn phết vách tường, thay đèn mới và sơn cửa Chánh Điện, cúng dường bàn ghế.

Năm 2002 Phật tử Lâm Ngọc A cúng dường và gắn bảng Thiền Tự Tuệ Căn.

Năm 2003 Phật tử cúng dường và gắn máy lạnh Thiền Đường.

Năm 2007 Phật tử Úc cúng dường bản vẽ họa đồ sửa Chánh Điện để nộp cho Tòa Hành Chánh quận.

Năm 2008 sau khi có Chánh Điện mới, một gia đình Phật tử Úc cúng dường sơn phết trong ngòai. Đồng thời một Phật tử ở Mỹ trong lúc viếng thăm và tu học tại Thiền Tự đã công quả một tuần lót sàn gỗ Chánh Điện.

Đồng thời quanh năm lúc nào cũng có người Úc đến làm thiện nguyện, dạy tiếng Anh, sửa chửa lặt vặt hoặc chăm sóc vườn tược.

  • Sinh Họat

Victoria Park là một quận sát nách thành phố Perth ở về mạn Nam sông Swan. Từ Thiền Tự thả bộ tới dòng sông khoảng chừng 1 cây số, nơi đó có thể đón xe buýt miễn phí để đến trung tâm thành phố và chỉ mất 3 phút. Tuy nhiên hầu như đa số người Việt lại định cư ở mạn Bắc, cho nên việc đến Thiền Tự thường xuyên cũng là một nan đề, vì đường xe chạy từ mạn Bắc xuống có thể dài hơn 30 cây số. Cho nên sinh hoạt chủ yếu là vào cuối tuần.

Từ tháng 3 năm 2000, khoảng 10 Phật tử  tề tựu vào 9 giờ sáng chủ nhật, tụng kinh sám hối 6 căn, ngồi thiền rồi thọ trai và sau đó ra về. Đây là những vị có nghe qua pháp âm của Hòa Thượng đã từ lâu rồi. Một nhóm Phật tử khác muốn đựơc học giáo lý căn bản vào chiều thứ bảy, cô Huệ Căn sắp xếp chương trình học dựa vào bộ Bước Đầu Học Phật và Chìa Khóa Học Phật của Hòa Thượng Tôn Sư. Lớp học càng ngày càng đông càng vui và con số tham dự hơn 10 vị mỗi buổi.Vào giữa năm 2000 đài truyền hình số 7 có làm phóng sự phỏng vấn cô Huệ Căn và chiếu sinh hoạt của Thiền Đường trên đài.

Từ năm 2001 thỉnh thoảng các đài phát thanh vẫn phỏng vấn cô Huệ Căn về các đề tài như Phật giáo hoặc Thiền học VN cũng như giới thiệu sinh hoạt Thiền Đường.

Năm 2002 lúc Hòa Thựơng Tôn Sư đến hoằng pháp ở Tây Úc, đài truyền hình có phỏng vấn Thầy, sau đó được chiếu trên đài 31 và thỉnh thoảng vẫn tùy dịp chiếu lại. Đồng thời buổi phỏng vấn cũng được sang băng video và đỉa để phân phát. Gần đây nhóm Phật tử Trúc Lâm Zen ở Sydney cũng đưa đỉa phỏng vấn nầy lên Youtube và đã có nhiều người xem.

Cuối năm 2002 phái đòan chư ni Trúc Lâm ghé Tây Úc. Tuy chỉ có một thời gian ngắn nhưng Phật tử cũng hưởng nhiều bài pháp do Sư Phó thuyết giảng. Chư ni còn giúp Phật tử hiểu rõ để thực hành đúng các nghi thức Sám Hối và thọ trai.

Tại chùa cô Huệ Mãnh tham gia hướng dẫn lớp học giáo lý căn bản và Phật tử rất khó quên những vần thơ thiền của các thi sĩ nổi danh do cô giới thiệu. Đáng tiếc là đến tháng 10 năm 2003 thì cô về lại Queensland vì sức khỏe kém.

Phải đến cuối năm 2003 Sư Cô Thuần Nhuận mới qua Tây Úc. Ngay khi Sư Cô đến Perth thì lớp học giáo lý căn bản buổi chiều Thứ Bảy ngưng họat động để Phật tử tu học chánh thức với giáo thọ. Buổi giảng pháp đầu tiên của Sư Cô quy tụ đông đảo Phật tử. Sinh họat bắt đầu vào 9 giờ sáng chủ nhật với chương trình thường lệ, đồng thời Sư Cô có giới thiệu thêm các chương trình như ngồi tỉnh tâm, kinh hành và thiền trà.

Tháng 7 năm 2004 cô Huệ Căn và cô Thuần Nhuận tham dự lễ khánh thành chùa Hải Ấn của người Singapore ở Carlisle. Visa của Sư Cô hết hạn đúng tháng 11 năm 2004. Tuy thời gian qúa ít nhưng cô Huệ Căn cũng cố gắng sắp xếp để Sư Cô được thăm viếng các đạo tràng trong tông môn ở Sydney và Melbourne.

Tháng 2, năm 2005 cô Nguyên Khiêm được visa qua Úc. Cô làm Hương Đăng và Tri Khách, thỉnh thoảng thăm viếng Phật tử nằm trong bệnh viện. Đặc biệt cô hướng dẫn 1 nhóm phụ nữ Úc tập Thái Chí. Lần lần cô được trao nhiệm vụ dạy thiền trong nhà giam nữ.

Tháng 5, năm 2005 cô Huệ Căn được lời mời của một số Phật tử đến Darwin là một tiểu bang nằm trên miền Bắc của châu Úc. Đây là vùng đất màu mỡ cho việc trồng xòai và mít, có đủ mọi sắc dân Á, Âu. Phật sự là một nhu cầu hàng đầu cho nên chánh phủ đã  cho thành lập một ngôi chùa quốc tế để có chỗ cho Phật tử đủ mọi sắc tộc thờ phựơng, lễ lạc. Cuối năm, trong một lần thăm viếng nữa, cô Huệ Căn hội ý với Phật tử Việt, đã thuyết phục ban chấp hành chùa chấp nhận cho quý ni VN nhập tự để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng người Việt.

Tháng 7 năm 2005 cô Huệ Căn hướng dẫn cô Linh Tọai qua Tây Úc trước khi đi Melbourne. Tuy cô chỉ ở đây một tuần nhưng cũng đủ khiến cho hơn 50 Phật tử Singapore viếng thăm chùa thán phục khi được thưởng thức các món ăn chay do cô chiêu đãi.

Tháng 8, năm 2005 cô Trí Định từ Ấn Độ đến Tây Úc. Cô giúp chăm sóc vườn và trông coi`thư viện. Cô còn mở lớp dạy chữ Hán cho một số Phật tử.

Đầu năm 2006, đài truyền hình ABC thực hiện một chương trình phóng sự sinh hoạt của 4 di dân đến Úc từ VN thuộc 4 lớp tuổi và hiện sống ở các tiểu bang khác nhau, cô Huệ Căn và Thiền Tự được mời góp mặt. Phóng sự được chiếu trên đài vào đầu năm 2008.

Tháng 10 năm 2006 cô Nguyên Khiêm và cô Trí Định được đề cử lên Darwin để gieo trồng hạt giống Phật.

Cuối năm 2007, cô Trí Định được coi như tạm yên ổn, cô Nguyên Khiêm trở về Perth.

Cuối năm 2009 cô Nguyên Khiêm về VN thăm thầy tổ rồi sau đó trở qua Queensland.

Từ đây, Thiền Tự Tuệ Căn sinh họat vào chiều thứ Bảy. Phật tử Úc vẫn đến thực hành thiền và nghe giảng từ 3 giờ đến 5 giờ chiều đều đặn. Mỗi tháng đều có một nhóm thanh niên Úc khoảng 15 em đến tham học thiền. Đồng thời cô Huệ Căn vẫn tiếp tục được mời giới thiệu thiền tông VN ở các đại học, các chùa Thái trong và ngòai nước. Việc thăm viếng nhà thương và nhà giam là thường xuyên theo nhu cầu. Thỉnh thoảng Phật tử ở nước ngoài cũng đến Thiền Tự xin được ở tập tu một thời gian ngắn từ 3, 7 hoặc 10 ngày.

Sau vài năm theo học tại Thiền Tự ông Nick Mills ghi chép lại những lời giảng của cô Huệ Căn và vào năm 2006 quyển Stories of Thiền được Phật tử Singapore ấn tống, tới nay đã tái bản lần thứ tư. Năm sau quyển Diamond Sutra cũng được Phật tử Singapore xuất bản ấn tống và đồng thời những bài giảng cũng được tải lên Youtube.

Ứơc mong trong thập niên tới sẽ có thêm chư ni trong và ngoài nước đến cùng tu học chung để tiếp nối mạng mạch Thiền Tông VN. Thiền tự có sức chứa hơn 10 vị. Nếu mỗi người đều tự cất bước đi thì:

            Đường về nhà,
            Hoa nở đầy,
            Chim líu lo,
            Lòng thơ thới,
            Miệng mĩm cười;
            Đây chốn xưa,
            Muôn niệm bặt,
            Chiêm bao hết.
            Dứt!
 
 
 
 
 
 
Mùa an cư 2554
Tháng 8 năm 2010
 
Huệ Căn

Địa chỉ liên lạc:

THIỀN TỰ TUỆ CĂN
7 Lichfield Street
6100 Western Australia
Ph: +61 8 94701251
Email: thienvientuecan@yahoo.co
Chủ trì: TKN Thích Nữ Huệ Căn
 
 
 
(Chú thích: Cô Huệ Căn không biết vi tính, người mở hộp email cho cô đánh lầm là thiền viện)

/p